Cụm di tích Đền Đức Thánh Cả, Đức Thánh Trung và Đức Thánh Hạ, Đình thôn Thái Bình là nơi lưu giữ dấu ấn của lịch sử dân tộc, của các triều đại phong kiến Việt Nam qua hệ thống sắc phong, di vật và thần tích, khẳng định bề dày lịch sử hàng nghìn năm của vùng đất Hòa Xá.
Từ trung tâm thành phố Hà Nội đi theo Quốc lộ 6, đến ngã ba Ba La, rẽ trái vào Quốc lộ 21B, đi khoảng 40km, qua xã Vân Đình khoảng 1km là đến thôn Thái Bình. Hoặc từ Kim Bảng, Ninh Bình đi theo quốc lộ 21B khoảng 40km là đến di tích. Cụm di tích đền Đức Thánh Cả, Đức Thánh Trung và Đức Thánh Hạ nằm ở sát đường, phía bên ngoài đê sông Đáy, các di tích này nằm cách nhau khoảng 300 - 500m, tạo nên sự gắn kết trong sinh hoạt tín ngưỡng của người dân nơi đây.
I. Đền Đức Thánh Cả thôn Thái Bình xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội - di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia.
Đền thờ phụng Đức Thánh Cả Bột Hải Quan thời vua Hùng Huy Vương đánh giặc Ân - là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số138-VH/QĐ Ngày 31/01/1992 của Bộ Văn hóa.
Thôn Thái Bình, xã Hòa Xá là nơi có nhiều công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng. Tương truyền làng thờ Đức Thánh Cả Bột Hải Đại Vương là Thành Hoàng làng và trong nhiều đền thờ đều phối thờ các bộ tướng của Ngài. Đình Thái Bình là nơi sinh hoạt chung, là nơi thờ vọng Đức Thánh Cả.
Quần thể di tích được xây dựng với bố cục hài hòa, kết hợp giữa cây cổ thụ, sông Đáy và các gian thờ tự, tạo nên vẻ uy nghiêm nhưng vẫn gần gũi với làng quê.
Thần phả đền truyền rằng, Đức Thánh Bột Hải Quan sinh giờ Thân ngày 12 tháng 4 năm Bính Ngọ. Ngài là người thông minh học giỏi văn, võ toàn tài. Khi 16 tuổi, cha mẹ mất ngài đã thay cha làm quan, sau ngài được vua Hùng sắc phong làm quan Bố Chính trong triều.
Thời gian sau, vua sắc phong ngài làm Đại tướng, đóng quân ở vùng Châu Hoan tức Thanh Hóa Nghệ Tĩnh ngày nay. Ngài dẫn đinh về xã Đại Đường, thôn Thái Bình thấy địa thế phù hợp, ngài lập 5 đồn binh để rèn luyện quân sĩ, đồng thời còn dạy dân sản xuất, giào làng bảo vệ quê hương giữ gìn thuần phong mỹ tục người, Người dân cảm tạ công đức đã cho 200 tráng đinh tham gia đạo quân của ngài để đánh giặc.
Khi giặc Ân do thần tướng Thạch Linh đem 100 vạn quân sang xâm lược nước ta. Thế giặc lớn, vua triệu ngài Bột Hải Quan về triều bàn mưu phá giặc.
Sắc phong ngài làm Thống Chế thủy Bộ Chư quân cùng đại quân Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân. Đức thánh Bột Hải Quan dẫn nghĩa binh thủy bộ của xã Đại Đường đến sứ Hải Dương thì gặp quân xâm lược. Đại quân của ngài cùng các đạo quân khác giao chiến ác liệt với giặc Ân. Khi đại binh của Phù Đổng Thiên Vương đánh bại giặc Ân, chém thần tướng Thạch Linh, đạo quân của ngài cùng các đạo binh khác cũng tràn lên tiêu diệt quân xâm lược, đuổi giặc ra khỏi bờ cõi. Vua xuống chiếu cho quân hồi chiều mừng chiến thắng.
Đại quân thủy bộ của ngài về đến bãi sông xã Đại Đường, huyện Hoài An, tức thôn Thái Bình, xã Hòa Xá ngày nay thì ngài hóa. Hôm đó là ngày 12 tháng 11 năm Giáp Thìn.
Theo thần phả của đền, khi thuyền ngài đến giữa sông thì có thuyền rồng nổi lên. Ngài bước sang thuyền rồng rồi biến mất.
Vua sai sứ đem sắc chỉ, mũ áo về tế lễ, giao cho quan chức và dân địa phương xây đền Hộ Nhi Hương Chính để thờ phụng. Ngoài ra, đền Đức Thánh Cả còn có 6 đền thờ khác phối thờ các vị thần tướng khác của Ngài là Quý Minh Đại Vương, thượng đẳng thần minh pháp, Tôn Thần chiêu pháp, Tôn Thần Nguyễn Thượng đẳng thần.
Cảm công đưc của Ngàu, trải qua các triều đại: Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn đều có sắc phong và mỹ tự tôn vinh công đức của ngài.
Đền Đức Thánh Cả đã được xếp hạng cấp Quốc gia theo Quyết định số 138-VH/QĐ Ngày 31/01/1992 của Bộ Văn hóa Du lịch .
II. Đình thôn Thái Bình, di tích lịch sử văn hóa cấp Thánh phố.
Đình Thái Bình là công trình kiến trúc tín ngưỡng, được dựng lên để thờ Thành hoàng làng và là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người dân trong xã. Di tích này là một di sản văn hóa có nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử cần được bảo lưu, giữ gìn như một đóng góp có ý nghĩa vào kho tàng văn hóa dân tộc. Nằm trong vùng có các loại hình di tích tôn giáo tín ngưỡng dày đặc, trong thôn có đền Thái Bình thờ Đức Thánh Cả đã được xếp hạng cấp Quốc gia theo Quyết định số138-VH/QĐ Ngày 31/01/1992.
Đình thôn Thái Bình đã được UBND thành phố Hà Nội xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Thành phố tại Quyết định số 6540/QĐ-UBND ngày 23/12/2024.
Đình thôn Thái Bình có tổng diện tích 963,4 m2 gồm các hạng mục: Nghi môn, đại bái, hậu cung, nhà khách, sân vườn và các di vật, hiện vật thuộc về di tích.
Thành hoàng được thờ tại di tích đình Thái Bình là Bột Hải đại vương được người dân tôn làm Đức Thánh Cả - bởi có nhiều công lao dạy dân làm ăn, đánh đuổi giặc Ân, phù trợ cho đời sống của nhân dân. Trải qua các triều đại, công trạng lớn lao của thần đều được các bậc đế vương suy tôn là "Bột Hải Thượng đẳng thần", xứng đáng để được lưu truyền, phụng thờ muôn đời
Các giá trị tiêu biểu của đình Thái Bình gồm:
Giá trị lịch sử:
Đình Thái Bình được dựng từ thế kỷ 17, nhưng đã bị xuống cấp, tồn tại đến ngày nay đã qua nhiều lần tu sửa, tôn tạo. Công trình chính của đình hiện nay được dựng lại vào thế kỷ 19. Trên thượng lương của toà Đại bái còn ghi lại dòng niên đại khởi dựng của ngôi đình vào thời vua Tự Đức 17 (1864). Mặc dù đây là dòng niên đại được ghi chép lại, nhưng điều này giúp cho các thế hệ sau biết rõ được lịch sử xây dựng của đình Thái Bình .
Đình được xây dựng để thờ Thành hoàng có công giúp nước, giúp dân làng Thái Bình học hành, canh tác, buôn bán làm ăn. Tồn tại cho đến ngày nay, ngôi đình đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá của người dân nơi đây. Hàng năm, đình là nơi tổ chức các kỳ lễ hội với nhiều nghi thức, nghi lễ, trò chơi dân gian được thực hiện. Điều này đã góp phần truyền lại những giá trị văn hoá của cha ông cho các thế hệ trẻ sau này và đồng thời tăng sự gắn kết người dân nơi đây.
Giá trị nghệ thuật - thẩm mỹ
Đình Thái Bình có bố cục mặt bằng chính hình chữ Đinh gồm hai công trình chính là Đại bái và Hậu cung.
Đình Thái Bình có quy mô lớn, không gian cảnh quan thoáng đãng, hướng ra sông Đáy, bao bọc xung quanh là làng mạc trù phú, đã tạo cho di tích một môi trường không gian kiến trúc hài hòa, uy nghiêm. Các công trình được phân bố hợp lý, nổi trội trên kiến trúc dân dụng làng xã, đáp ứng với khí hậu nóng, ẩm.
Các mảng chạm trên kiến trúc gỗ đã được thể hiện khá phong phú, đa dạng với nhiều đề tài khác nhau như tứ linh, rồng cuốn thuỷ, rồng chầu, lá hoá rồng, hoa lá, vân mây…trên hầu hết các cấu kiện của bộ khung gỗ như vì nóc, vì nách, ván dong, kẻ, bẩy… Tất cả những điều này đã tạo ra vẻ đẹp riêng cho ngôi đình nơi đây.
Trong đình còn lưu giữ được khá nhiều các di vật có giá trị như: hệ thống đại tự, hương án, ngai thờ… trên các di vật này đều được trang trí, chạm khắc đẹp, có giá trị nghệ thuật để cho các nhà khoa học nghiên cứu.
Giá trị sử dụng:
Đình Thái Bình được dựng lại từ thời Nguyễn và đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo. Trải qua nhiều thế kỷ, đến nay các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng tại đây vẫn được thực hiện tốt. Nhân dân trong vùng và khách thập phương vẫn thường xuyên đến đây thắp hương và sinh hoạt tín ngưỡng. Ngoài ngày lễ hội chính vào ngày mồng 2 - 6 tháng Giêng âm lịch, nghi thức, trò chơi dân gian được diễn ra đã thu hút được đông đảo người dân tham gia, tại đình còn tổ chức nhiều hoạt động nghi lễ khác trong năm. Điều này góp phần lưu giữ và truyền lại những giá trị văn hoá cho lớp thế hệ trẻ phía sau.
Vào thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Thái Bình là nơi huấn luyện quân sự cho các chiến sĩ mới nhập ngũ, để kịp thời bổ sung lực lượng cho các chiến trường. Ngôi đình cũng từng là trụ sở, nơi hội họp của các tổ chức Cách mạng, nơi trú ẩn và bảo vệ tính mạng cho các cán bộ chiến sĩ, nơi cất giấu vũ khí của quân đội. Sau hoà bình, ngôi đình lại là cơ sở sản xuất của hợp tác xã. Từ khi khởi dựng cho đến nay, ngôi đình luôn hoà mình vào với đời sống sinh hoạt của người đân nơi đây.
- Không gian cảnh quan di tích:
Đình nằm trong cụm di tích đình Thái Bình và chùa Diên Khánh (Diên Khánh tự), trong địa thế khá đẹp, thông thoáng, phía trước nằm sát với Quốc lộ 21B, quay hướng Tây thuộc khu vực trong đê, hướng ra sông Đáy. Bên phải của đình là chùa Diên Khánh (hiện nay đang được tôn tạo lại), xung quanh là khu dân cư đông đúc thuộc xóm Chùa và xóm Già. Quanh đình còn có các đền thờ Đức Thánh Cả, đền thờ Đức Thánh Thượng, đền thờ Đức Thánh Tiếu; đền thờ Đức Thánh Trung, đền thờ Đức Thánh Hạ…Với mật độ di tích tôn giáo, tín ngưỡng dày đặc được phân bố trong thôn, đã tạo nên sự liên kết trong không gian sinh hoạt văn hóa phong phú, đa dạng, tăng tình đoàn kết trong cộng đồng.
- Mặt bằng tổng thể:
Mở đầu di tích là cổng/Nghi môn đình được dựng kiểu tứ trụ, phía sau là sân đình lát đá, có diện tích khá rộng để tổ chức lễ hội. Giáp sau cổng đình ở bên phải là đài tưởng niệm liệt sĩ, để tưởng nhớ đến những người thôn Thái Bình có công với Cách mạng. Chính giữa sân là tòa Đại đình - công trình chính có quy mô tương đối lớn. Bên trái Đại bái là nhà khách được làm năm 2019, gồm 4 gian, vật liệu bằng gỗ xoan, bộ khung gỗ làm kiểu trốn hàng chân cột, quá giang gác lên tường bao.
Cổng đình
Cổng đình được dựng kiểu tứ trụ, gồm 3 cổng, với cổng chính kiểu trụ biểu lớn, trên đỉnh đắp hình tứ phương, bên dưới đắp hình lân chầu ở bốn góc. Các ô hộc đắp hình tứ linh. Trên các cột trụ biểu đắp câu đối ca ngợi công đức của Thành hoàng làng.
Nối giữa trụ biểu lớn với trụ biểu nhỏ là bức/vách tường bao, bên ngoài đắp hình quan võ cầm đao canh cổng và tượng ngựa. Bên trong đắp nổi bức phù điêu hình voi, hổ thể hiện sức mạnh của vị thần được thờ. Trên vách cổng đắp mái giả, kiểu hai tầng mái với các đầu đao cong, trên mái trang trí hình mặt trời, đầu rồng, phượng. Cổng đình mới được làm lại trong những năm gần đây, mặc dù không có giá trị nhiều về mặt kiến trúc, nghệ thuật, nhưng vẫn mang ý nghĩa quan trọng trong cấu trúc tổng thể ngôi đình.
Đại đình
Đại đình là công trình chính của ngôi đình, có mặt bằng hình chữ Đinh dài 19,75m, rộng 15,38m, gồm hai công trình: Đại bái và Hậu cung.
* Đại bái là công trình có quy mô lớn để làm nơi tế lễ Thành hoàng, là nơi bài trí nhiều đồ thờ như ngai thờ, bài vị, kiệu thờ... Đại bái có mặt bằng hình chữ Nhất, gồm 5 gian, gian giữa rộng 3,55m, các gian bên rộng 2,84m.Nền cao hơn nền sân phía trước,được lát bằng gạch đỏ ở thềm hiên, hoặc gạch men giả gỗ ở bên trong, mạch chữ Công.
Kết cấu bộ khung gỗ trước đây gồm 4 hàng chân cột, với 2 hàng cột cái và 2 hàng cột quân, nhưng trong lần tu sửa gần đây đã bổ sung thêm hàng cột hiên ở phía trước, phía sau và hai bên hành lang bằng vật liệu bê tông cốt thép sơn giả gỗ, tạo thành kết cấu bộ khung 6 hàng chân cột (3 hàng cột trước và 3 hàng cột phía sau). Các cột gỗ ở hàng cột cái và cột quân có tiết diện tròn, dáng đòng đòng đặt trên chân tảng đá kiểu đế vuông thớt tròn. Bộ khung gỗ bao gồm 4 vì nóc, và 8 vì nách. Vì nóc gồm hai kiểu chồng rường và cốn mê. Các kiểu vì chồng rường được làm ở gian giữa, với 02 rường suốt ở phía trên và 02 rường cụt. Các con rường chồng lên nhau qua các đấu kê, giữa các con rường nong ván mỏng, đầu các con rường đỡ hoành mái qua dép hoành. Câu đầu (cách mặt nền 5,64m), ăn mộng vào đầu hai cột cái. Ở gian giữa lắp trần thiết, trên đó trang trí hình tứ linh, sơn son thếp vàng. Vì nóc ở hai gian bên làm kiểu cốn mê, với một tấm ván lớn liên kết với câu đầu, cạnh trên của ván mê khoét ổ đỡ hoành mái. Trên bề mặt chạm khắc hình hổ phù với các lớp vẩy đơn lớn, khuôn mặt dữ tợn, mắt tròn lồi, trán dô cao, miệng loe rộng, chân bành sang hai bên dẫm lên thân lân mang phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ 20.
Vì nách được làm chung một kiểu thức thống nhất, với kiểu chồng rường, gồm 4 con rường chồng lên nhau qua đấu kê, các con rường phía trên là rường suốt liên kết với cột cái bằng mộng xuyên lửng, con rường dưới cùng là rường cụt liên kết với rường phía trên qua đấu kê và chốt cố định. Phía dưới là xà nách sử dụng mộng xuyên lửng liên kết với thân cột cái và liên kết với cột quân ở hai bên hồi qua đấu kê và sử dụng mộng sập. Đầu các con rường được chạm khắc hình lá lật bằng kỹ thuật chạm nét, chạm nổi, có những vị trí được chạm kênh bong hẳn ra bên ngoài.
Hiên phía trước và phía sau làm kiểu chồng rường kết hợp với bẩy chéo mới được làm vào đầu thế kỷ 21 bằng vật liệu bê tông cốt thép sơn giả gỗ.
- Mái và bao che:
+ Bao che hai bên xây tường bao bằng gạch trát vữa. Phía trước và hai bên hồi lắp cửa ván gỗ ở hàng cột quân, kết hợp với các chắn song con tiện ở phía trên.
+ Mái được làm kiểu 1 tầng 4 mái, hai mái chính rộng, còn hai mái bên hẹp làm kiểu mái bẩng. Mái lợp ngói di, bên dưới là lớp ngói lót, gác trực tiếp lên các thanh rui, hoành mái. Chính giữa bờ nóc đắp hình rồng chầu mặt trời, hai đầu bờ nóc đắp hình Makara biến thể. Khúc nguỷnh, đầu đao đắp hình lân bằng vật liệu xi măng, vữa. Điểm cao nhất của hệ mái là đỉnh của mặt trời ở chính giữa bờ nóc, điểm thấp nhất là dạ tàu mái.
* Hậu cung nối với Đại bái tạo thành mặt bằng hình chữ Đinh. Hậu cung được làm lại vào năm 2019. Kết cấu kiến trúc bằng bê tông cốt thép, khá đơn giản. Hậu cung để thoáng, thông với Đại bái. Hai bên hồi và hậu xây tường bao bằng gạch, trát vữa. Mái lợp ngói di, làm kiểu 2 tầng mái, kiểu chồng diêm. Trên mái trang trí các hình rồng, bờ nóc đắp gờ chỉ bằng xi măng vữa.
Sân vườn:
Sau khi được quy hoạch lại, các công trình kiến trúc trong đình được bố trí hài hòa. Sát phía sau bên phải Nghi môn dựng đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ trong thôn. Phía bên trái Đại bái có nhà khách. Xung quanh tường bao vườn và sân trồng một số cây lâu năm tạo cảnh quan cho ngôi đình.
Về bài trí nội thất
Đại bái là không gian văn hoá kiến trúc được bài đồ thờ với mật độ cao nhất. Ở khoảng lòng cột cái sau đến cột quân sau gian giữa đặt một hương án gỗ, trên đó đặt bát hương, bộ ngũ sự. Hai bên hương án đặt chóe bằng sứ và hạc thờ bằng gỗ. Dọc hai bên giữa hàng cột cái đặt bộ chấp kích, phía trên treo bức hoành phi và câu đối ca ngợi công đức của Thành hoàng. Hai gian bên đặt ban thờ, bài trí khá đơn giản thờ các vị tướng, Thổ công của vùng đất.
Hậu cung là nơi thâm nghiêm, bên trong đặt khám thờ, ngai thờ, bài vị, áo, mũ, hia của Thành hoàng. Bên trái, khám thờ đặt tượng ngựa tía. Phía trước khám thờ đặt hương án, bên trên đặt các đồ thờ tự như: bát hương, mâm bồng, bộ ngũ sự bằng đồng, chóe nước, lọ hoa… Trên hai cột cái treo đôi câu đối ca ngợi công đức của Thành hoàng.
Sơ đồ bài trí di vật đình Thái Bình
TT | Tên di vật, hiện vật | STT (Mã) | Tên di vật, hiện vật |
|---|
Di vật, hiện vật tại Hậu cung |
1 | Ngai thờ | 27-31 | Bộ ngũ sự |
2 | Bài vị | 32 | Mâm bồng |
3 | Mũ | 33 | Bát hương |
4 | Áo | 34 | Sập thờ |
5,6 | Đôi hia | 35 | Hoành phi |
7 | Khám thờ | 36 | Cửa võng |
8 | Ngựa thờ | 37,38 | Đôi câu đối |
9-13 | Bộ ngũ sự | 39,40 | Đôi lọ lục bình |
14-15 | Đôi lọ lục bình | 41,42 | Đôi hạc thờ |
16 | Chóe | 43-48 | Bát bửu trái |
17 | Mâm bồng | 49-54 | Bát bửu phải |
18 | Bát hương | 55 | Sập |
19 | Hương án | 56 | Chuông |
20, 21 | Đôi lọ lục bình | 57-58 | Đôi câu đối |
22 | Cửa võng | 59-63 | Bộ ngũ sự |
23,24 | Đôi câu đối | 64 | Mâm bồng |
25, 26 | Đôi lọng | 65 | Bát hương |
Di vật, hiện vật tại Đại bái |
66 | Hương án | 82 | Chuông |
67,68 | Đôi câu đối | 83-87 | Bộ ngũ sự |
69-70 | Đôi lọ lục bình | 88 | Mâm bồng |
71 | Hoành phi | 89 | Bát hương |
72 | Cửa võng | 90 | Hương án |
73-74 | Đôi câu đối | 91 | Hoành phi |
75 | Ngựa đỏ | 92 | Cửa võng |
76 | Bàn thờ | 93 | Ngựa bạch |
77 | Hoành phi | 94 | Ngai rước |
78 | Cửa võng | 95 | Chuông đại |
79,80 | Câu đối | 96 | Ban thờ |
81 | Trống đại | 97 | Hương án |
III. Di tích Đền Đức Thánh Trung thôn Thái Bình
Đền thờ Đức Thánh Trung (xưa gọi là Quán Trung) có tọa độ địa lý 20071’36,7’’ vĩ độ Bắc, 105076’80’’ kinh độ Đông. Nằm ở vị trí có nhiều thuận lợi về đường thủy và đường bộ, nên có thể đến di tích bằng những đường sau:
Đền thờ Đức Thánh Trung là một trong những công trình thờ Đức Thánh Cả - Bột Hải Đại vương và phối thờ bộ tướng Minh Pháp. Đây là công trình kiến trúc tín ngưỡng, được dựng lên để thờ người có công với làng xã và là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người dân trong xã. Di tích này là một di sản văn hóa có nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử cần được bảo lưu, giữ gìn như một đóng góp có ý nghĩa vào kho tàng văn hóa dân tộc.
Thôn Thái Bình xã Hòa Xá thành phố Hà Nội là nơi có nhiều công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng. Tương truyền, làng thờ Bột Hải Đại vương - Đức Thánh Cả được người dân tôn thờ là Thành hoàng làng và trong các đền thờ ở làng đều phối thờ các bộ tướng của ngài.
Đền thờ Đức Thánh Trung được phối thờ Minh Pháp tôn thần. Trong bài vị và cuốn "Thần sắc, thần hiệu xã Thái Bình, phủ Ứng Hòa, huyện Sơn Lãng, tỉnh Hà Đông" có ghi mỹ tự: "Đương cảnh Thành hoàng Minh Pháp tôn thần".
- Đền thờ Đức Thánh Hạ thờ Chiêu Pháp uy thông đại vương.
Sự nghiệp của hai vị thần này gắn liền với Đức Thánh Cả, nên mọi sinh hoạt tín ngưỡng của hai đền thờ đều có sự liên kết chặt chẽ với nhau, tạo nên không gian văn hóa đậm chất dân gian của người Việt cổ.
Trải qua các triều đại, công trạng lớn lao của Đức Thánh Cả đều được các bậc đế vương suy tôn là "Thượng đẳng thần", tướng Minh Pháp được phối thờ ở đền Đức Thánh Trung cũng được gia phong mỹ tự "Đương cảnh Thành hoàng Minh Pháp tôn thần" xứng đáng để được lưu truyền, phụng thờ muôn đời.
- Không gian cảnh quan di tích:
Đền Đức Thánh Trung có diện tích 5.097m2 được xây dựng ở một vùng đất bồi của sông Đáy, mang phù sa tươi tốt của dòng sông tạo nên cây cối ở đây xum xuê xanh tốt. Đền nằm ở khu vực ngoài đê sông Đáy, quay mặt ra sông Đáy, tựa lưng vào đê, phía sau là quốc lộ 21B. Đền có thế đất đẹp, dốc, thoải dần theo triền đê. Đền nằm cách xa khu dân cư, càng làm cho khu di tích thâm nghiêm, huyền bí hơn. Xung quanh sân đền là ao hồ, nhiều cây xanh tạo không gian cảnh quan, bóng mát cho di tích. Đền mới được dựng lại trong những năm gần đây, nên tình trạng kỹ thuật hiện nay khá tốt.
- Mặt bằng tổng thể:
Mặt bằng tổng thể đền Đức Thánh Trung mở đầu là cổng đền được dựng kiểu tứ trụ, quay hướng ra Quốc lộ 21B theo hướng Đông. Cổng đền nằm sát với quốc lộ 21B, tiếp đến là khoảng sân rộng được lát bằng gạch bát. Bên phải cổng đền là nhà khách gồm 4 gian, bên trái là các công trình chính của đền. Công trình chính quay theo hướng Tây, phía trước đền chính là hồ nước, tiếp đến là bức bình phong, nằm cách nhà thờ chính một khoảng sân, với ý nghĩa giúp che chắn, khuất tầm nhìn đồng thời che chắn gió - những luồng khí từ bên ngoài vào trong đền chính. Đền chính với mặt bằng kiểu "tiền Nhất hậu Đinh" gồm Tiền tế, Trung tế và Hậu cung. Toàn bộ các công trình chính dài 22,765m, rộng 12,04m. Tiền tế và Trung tế nằm cách nhau một khoảng sân 3,64m, trên đó đặt các cây xanh để tạo không gian cảnh quan, độ thông thoáng cho ngôi đền.
Cổng đền
Cổng đền được dựng kiểu tứ trụ, quay hướng Đông, có tình trạng kỹ thuật tương đối tốt. Kiểu thức được làm theo kiểu trụ biểu khá phổ biến ở vùng Bắc Bộ, gồm hai trụ lớn và hai trụ nhỏ. Hai trụ giữa lớn, trên đỉnh đắp hình tứ phượng chầu vào nhau. Bên dưới đắp hình rồng, hổ phù. Các ô hộc đắp hình tứ linh được sơn màu sắc sặc sỡ. Thân trụ biểu đắp câu đối ca ngợi công đức của vị thần được thờ. Giữa trụ biểu lớn và trụ biểu nhỏ là bức tường bao, bên ngoài đắp phù điêu tượng quan võ canh cổng, bên trong đắp tượng rồng, hổ, phía trên đắp mái giả lợp ngói. Trụ biểu nhỏ đắp hình lồng đèn, trên đỉnh đặt hình lân chầu vào nhau.
c. Tiền tế
Tiền tế là hạng mục công trình chính có quy mô lớn nhất về mặt kiến trúc nghệ thuật của di tích. Tiền tế có mặt bằng hình chữ Nhất, dài 12,04m, rộng 8,91m, gồm 5 gian, các gian dài trung bình từ 2,4 -2,5m. Nền ở gian giữa và hai gian bên làm cao hơn sân 0,47m. Thềm hiên được làm 5 bậc, nền lát bằng gạch Bát (kích thước 0,3 x 0,3m, mạch chữ Công). Phía trước có hai trụ biểu, đỉnh trụ biểu đắp hình lân, phía dưới đắp hình đao cong vứt, mềm mại.
Kết cấu bộ khung gỗ gồm 4 hàng chân cột (2 hàng cột cái và 2 hàng cột quân), trong đó hàng cột quân ở hai bên hồi đã bị cắt đi để xây tường bao. Vật liệu xây dựng công trình này chủ yếu là gỗ xoan. Các cột được kê trên chân tảng đá, hình dáng cột kiểu thượng thu hạ thách, dáng đòng đòng. Toàn bộ Tiền tế gồm 6 vì nóc và 12 vì nách. Các vì nóc gian giữa và gian bên làm kiểu chồng rường, với 4 con rường, trong đó có 2 con rường suốt ở phía trên và 2 rường cụt ởphía dưới. Các con rường chồng lên nhau qua các đấu kê. Câu đầu liên kết với cột bằng mộng sập. Đầu các con rường cTrungm khắc các hình lá lật bằng kỹ thuật chạm nổi, chạm nét. Các vì nóc ở hai bên hồi làm kiểu cốn mê, với một tấm ván dày, gác lên câu đầu, cạnh trên khoét ổ đỡ hoành mái. Trên bức cốn chạm hình hổ phù, ván nong ghép giữa câu đầu và quá giang vẽ hình rồng, với các đường nét sắc nhọn mang phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ 20.
Các vì nách phía trước và phía sau ở gian giữa, gian bên làm kiểu kẻ ngồi, một đầu kẻ ăn mộng vào thân cột cái/cột trốn, còn một đầu tì lực lên xà nách và quá giang. Vì nách ở hai bên hồi làm kiểu cốn mê, với một bức cốn hình tam giác, liên kết với xà nách, cột cái, phía trên khoét ổ đỡ hoành mái.
Các vì hiên ở gian giữa và gian bên làm kiểu chồng rường, với bốn con rường chồng lên nhau qua các đấu kê. Các rường phía trên là kiểu rường suốt, liên kết với cột bằng mộng xuyên lửng, còn con rường phía dưới sử dụng rường cụt. Đầu các con rường chạm khắc hình lá lật.
Liên kết hiên được làm kiểu bẩy chéo, một đầu ăn mộng vào cột quân, đỡ dạ xà nách, còn đầu kia vươn ra đỡ dạ tàu mái. Phía trên bẩy có các ván dong, liên kết với bẩy bằng các chốt, bên trên khoét ổ đỡ hoành mái.
Liên kết theo chiều dọc của công trình sử dụng các xà dọc cột cái, xà dọc cột quân. Các xà đều có tiết diện hình lồng đèn, bào soi gờ chỉ, liên kết với cột bằng các mộng xuyên lửng.
Điêu khắc - trang trí ở Tiền tế khá phong phú và đa dạng, ngoài các hình linh vật như rồng, hổ phù, còn chạm các hình hoa lá cách điệu, lá lật, với kỹ thuật chạm nét, chạm nổi làm giảm bớt sự thô cứng của cấu kiện.
Bao che phía trước được làm ở cột quân, sử dụng các hệ cửa ván gỗ, bên trên là các chắn song con tiện. Hai bên hồi sử dụng các tường bao bằng gạch, trát vữa. Phía sau mở cửa thông với Trung tế và Hậu cung. Mái được làm kiểu 1 tầng 2 mái kiểu tường hồi bít đốc tay ngai. Mái lợp ngói di. Chính giữa bờ nóc đắp hình rồng chầu mặt trời. Hai đầu bờ nóc đắp kìm nóc kiểu đầu rồng và đấu nắm cơm. Các bờ giải đắp gờ chỉ bằng xi măng vữa, giật cấp thành các tay ngai để chắn mái.
Trung tế và Hậu cung:
Trung tế và Hậu cung có mặt bằng hình chữ Đinh. Đây là không gian chuyển tiếp giữa Tiền tế và Hậu cung, công trình này là nơi đặt nhiều đồ thờ tự. Kiểu bố cục mặt bằng này tương tự với đền Đức Thánh Hạ, bởi đều được tôn tạo cùng thời điểm.
Trung tế: Trung tế gồm 3 gian, dài 8,69m, rộng 5,69m, gian giữa rộng 2,95m, hai gian bên rộng 2,51m. Nền Trung tế được làm cao hơn nền sân trước 0,47m, lát bằng gạch Bát, mạch chữ Công.
Kết cấu bộ khung gồm 4 hàng chân cột (2 hàng cột cái và 2 hàng cột quân), hàng cột quân ở phía trước đã bị cắt để xây tường bao. Toàn bộ Trung tế gồm 4 vì nóc và 8 vì nách. Các vì nóc gian giữa làm kiểu chồng rường, kiểu thức liên kết được làm tương tự như vì nóc ở Tiền tế. Hai vì nóc gian bên làm kiểu ván mê, với một tấm ván đặc kín chạm khắc hình rồng ngậm chữ Thọ, thân rồng được chạm với lớp vẩy đơn, khuôn mặt khá dữ tợn. Khoảng cách giữa câu đầu và xà lòng được nong ván, vẽ hình cuốn thư, lọ hoa ở hai bên, đây là sản phẩm mới trong lần trùng tu gần đây.
Các vì nách ở gian giữa làm kiểu kẻ ngồi, với một đầu ăn mộng qua thân cột cái, đỡ dạ câu đầu, còn đầu kia ăn mộng vào thân xà nách bằng các chốt. Xà nách sử dụng mộng xuyên lửng liên kết với thân cột cái bằng và liên kết với cột quân ở hai bên hồi qua đấu kê và sử dụng mộng sập ở gian giữa. Các kẻ và xà nách đều có tiết diện hình lồng đèn, trên thân xà nách chạm khắc hình lá lật. Bốn vì nách ở gian bên làm kiểu cốn mê, trên các bức cốn chạm khắc hình tứ linh (long, lân, quy, phụng), mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ 20.
Các bẩy hiên trước được tạo kiểu cổ ngỗng, phía trên là ván dong khoét ổ đỡ hoành mái. Đầu các bẩy hiên chạm hình lá lật, rồng hí thủy, đầu rồng được bong kênh hẳn ra bên ngoài, sử dụng các chốt cố định để gắn vào thân rồng. Chân rồng có 5 móng sắc nhọn, thể hiện uy quyền. Các lá lật được chạm mềm mại, uốn lượn theo chiều dài của thân tạo hiệu quả về khối.
Bao che phía trước trước đây làm kiểu ván gỗ, nhưng sau đó đã cắt hàng cột quân phía trước để xây tường hồi, mở ba cửa gồm cửa giữa và hai bên. Hai bên hồi xây tường bao bằng gạch, trát vữa. Trên các tường hồi phía trước và phía sau đều tô vẽ các họa tiết hoa văn theo chủ đề tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai).
Mái làm 1 tầng 2 mái, kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, lợp ngói di. Hệ mái được làm đơn giản hơn so với mái ở Tiền tế.
Hậu cung phía sau nối liền với Trung tế tạo thành mặt bằng hình chữ Đinh. Hậu cung có diện tích nhỏ, kiến trúc được làm đơn giản, sử dụng các vật liệu bê tông cốt thép, xây kiểu cuốn vòm. Nền Hậu cung lát bằng gạch Bát, chia thành hai cấp để bài trí đồ thờ tự.
Sân vườn:
Sau khi được quy hoạch lại, các công trình kiến trúc trong đình được bố trí hài hòa. Phía trước đền là hồ nước, xung quanh đền trồng nhiều cây xanh tạo cảnh quan thoáng mát.
Về sự bài trí nội thất
- Bài trí nội thất ở Tiền tế:
Tiền tế là nơi tổ chức tế lễ, nên việc bài trí nội thất cũng được sắp đặt khá quy củ. Gian chính giữa đặt hương án, bên trên đặt bát hương, bộ đỉnh đồng, bát hương. Phía trước hương án đặt đẳng thờ, hai bên đặt lọ lộc bình và bộ chấp kích đều bằng gỗ. Bên trên treo bức hoành phi"Mậu chung anh tú". Hai bên cột cái gian giữa treo đôi câu đối ca ngợi công đức của vị thần được thờ. Gian bên trái đặt kiệu bành mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 20, dùng để rước ngai thờ, bài vị Thành hoàng trong ngày lễ hội. Phía trên bên phải treo bức hoành phi "Hách quyết linh"; Bên trái là bức hoành phi "Ư nghiệp phù". Các bức hoành phi, câu đối đều ca ngợi công đức của vị thần được thờ tại đây.
- Bài trí nội thất ở Trung tế
Gian giữa Trung tế đặt hương án gỗ, chạm khắc các hình tứ linh, tứ quý, bát quả mang phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ 20. Phía trên đặt bát hương, mâm bồng bằng đồng, đèn thờ, lọ hoa. Dọc hai bên hương án đặt hạc thờ, bình hoa bằng gỗ, tiếp là hai đẳng thờ và bộ chấp kích. Chính giữa phần tiếp giáp với Hậu cung treo bức hoành phi "Vạn cổ anh linh", phía dưới treo hệ cửa võng chạm khắc hình tứ linh. Trên các cột cái và cột quân phía sau Trung tế treo đôi câu đối. Đây đều là những sản phẩm mới được đưa vào thờ tự trong giai đoạn gần đây.
- Bài trí nội thất ở Hậu cung
Trong Hậu cung đặt hương án, khám thờ, bên trong khám đặt ngai thờ, bài vị, đôi hài, mũ thờ…Trên bài vị khắc hình rồng chầu, hoa lá, hoa sen, mây, ở giữa thân bài vị khắc tên vị Thành hoàng được thờ "Đương cảnh Thành hoàng Minh Pháp tôn thần" . Các hiện vật trong Hậu cung đều được sơn son thếp vàng, các chi tiết trang trí chủ yếu là các hình tứ linh mang phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ 20.
Sơ đồ bài trí di vật ở đền Đức Thánh Trung:
HẬU CUNG TRUNG TẾ TIỀN TẾ
Chú thích:
TT | Tên di vật, hiện vật | TT | Tên di vật, hiện vật |
|---|
Di vật, hiện vật tại Hậu cung |
1 | Ngai thờ | 11 | Mâm bồng |
2 | Bài vị | 12,13 | Đôi lọ hoa |
3 | Mũ | 14 | Bát hương |
4 | Áo | 15 | Tam sơn |
5,6 | Đôi hia | 16 | Chóe |
7 | Khám thờ | 17 | Cuốn thư |
8,9 | Đôi lọng | 18,19 | Đôi lọng |
10 | Hương án | | |
Di vật, hiện vật tại Trung tế Di vật, hiện vật tại Trung tế |
20 | Hương án | 43 | Cuốn thư |
21 | Đỉnh | 44 | Hoàng bào |
22 - 23 | Hạc thờ | 45 | Đẳng thờ |
24 -25 | Đôi chân nến | 46-47 | Đôi Hạc thờ |
27 | Mâm bồng | 48 | Hoành phi gian bên phải |
28 | Bát hương | 49 | Mũ |
29.30 | Câu đối cột cái gian giữa sau | 50 | Hia |
31-32 | Đôi lọ lục bình | 51 | Hoành phi gian bên trái |
32-33 | Đôi câu đối cột cái gian giữa trước | | |
34- 42 | Bộ chấp kích | | |
Di vật, hiện vật tại Tiền tế |
52. | Hương án | 64 | Hoành phi |
53 | Bát hương | 65 | Hoành phi gian bên phải |
54,55 | Hạc thờ | 66 | Hoành phi gian bên trái |
56,57 | Cây nến | 67-72; 73-76 | Chấp kích |
58 | Đỉnh đồng | 77 | Sập thờ |
60,61 | Lọ lục bình | 78 | Kiệu |
62,63 | Câu đối | 79 | Trống |
III. Di tích Đền Đức Thánh Hạ thôn Thái Bình
Đền thờ Đức Thánh Hạ là một trong những công trình thờ Đức Thánh Cả- Bột Hải Đại vương và phối thờ bộ tướng Chiêu Pháp. Đây là công trình kiến trúc tín ngưỡng, được dựng lên để thờ vọng Thành hoàng làng và là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người dân trong xã. Di tích này là một di sản văn hóa có nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử cần được bảo lưu, giữ gìn như một đóng góp có ý nghĩa vào kho tàng văn hóa dân tộc.
Đền thờ Đức Thánh Hạ (còn gọi là Quán Hạ, đền Cụ Hạ). Đền thờ Đức Thánh Hạ ngoài thờ Đức Thánh Cả còn phối thờ tướng Chiêu Pháp. Hiện trong Hậu cung của đền thờ còn bài vị ghi: "Đương cảnh Thành hoàng Chiêu Pháp Uy Thông đại vương", là một trong những bộ tướng của Đức Thánh Cả, vị tướng này chủ yếu giữ về quân lực.
Làng Thái Bình, ngoài đền thờ Đức Thánh Cả thờ Bột Hải đại vương, còn có 6 đền thờ khác thờ các tướng của Ngài. Trong đó:
- Đền thờ Đức Thánh Trung thờ Minh Pháp tôn thần;
- Đền thờ Đức Thánh Hạ thờ Chiêu Pháp uy thông đại vương.
Sự nghiệp của hai vị thần này gắn liền với Đức Thánh Cả, nên mọi sinh hoạt tín ngưỡng của hai đền thờ đều có sự liên kết chặt chẽ với nhau, tạo nên không gian văn hóa đậm chất dân gian của người dân nơi đây.
Trải qua các triều đại, công trạng lớn lao của Đức Thánh Cả đều được các bậc đế vương suy tôn là "Thượng đẳng thần", tướng Chiêu Pháp được phối thờ ở đền Đức Thánh Hạ cũng được gia phong mỹ tự "Đương cảnh Thành hoàng uy thông Đại vương" xứng đáng để được lưu truyền, phụng thờ muôn đời.
- Không gian cảnh quan di tích:
Đền Đức Thánh Hạ có diện tích 3.860m2, quay hướng Tây, hướng ra sông Đáy. Đền nằm ở khu vực ngoài đê sông Đáy, tựa lưng vào đê, phía sau là quốc lộ 21B, nằm cách xa khu dân cư. Đền có thế đất đẹp, dốc, thoải dần theo triền đê.
Đền nằm trong khu vực có mật độ di tích tôn giáo, tín ngưỡng dày đặc được phân bố trong thôn, đã tạo nên sự liên kết trong không gian sinh hoạt văn hóa phong phú, đa dạng, tăng tình đoàn kết trong cộng đồng.
- Mặt bằng tổng thể:
Mở đầu đền Đức Thánh Hạ là cổng đền được dựng kiểu tứ trụ, quay hướng Tây nằm sát với quốc lộ 21B, tiếp đến là khoảng sân rộng và các công trình chính của đền quay ngược hướng với cổng đền. Phía trước đền chính là hồ bán nguyệt và bức bình phong cách nhà thờ chính một khoảng sân, với ý nghĩa giúp che chắn, khuất tầm nhìn hay hạn chế tầm nhìn đồng thời che chắn gió - những luồng khí từ bên ngoài xộc thẳng vào trong đền chính.
Đền chính với mặt bằng kiểu "tiền Nhất hậu Đinh" gồm Tiền tế, Trung tế và Hậu cung. Toàn bộ các công trình chính dài 20,99m, rộng 12,27m. Tiền tế và Trung tế nằm cách nhau một khoảng sân 3,6m, trên đó đặt các cây xanh để tạo không gian cảnh quan, độ thông thoáng cho ngôi đền.
Cổng đền
Cổng đền được dựng kiểu tứ trụ, mới được làm lại nên có tình trạng kỹ thuật tương đối tốt. Kiểu thức cổng đền theo kiểu trụ biểu khá phổ biến ở vùng Bắc Bộ, với bốn trụ biểu, hai trụ giữa lớn, trên đỉnh đắp hình tứ phượng chầu vào nhau. Bên dưới đắp hình lân, ở các ô hộc đắp hình tứ linh. Thân trụ biểu đắp câu đối ca ngợi công đức của vị thần được thờ. Giữa trụ biểu lớn và trụ biểu nhỏ là bức tường bao, trên đó đắp phù điêu tượng voi, ngựa. Trên đỉnh trụ biểu đắp hình lân chầu vào nhau.
Tiền tế
Tiền tế là hạng mục công trình chính có quy mô lớn nhất về mặt kiến trúc nghệ thuật của di tích. Đây cũng chính là không gian văn hoá kiến trúc được bài trí nhiều đồ thờ cúng Thành hoàng.
Tiền tế có mặt bằng hình chữ Nhất, dài 12,27m, rộng 7,635m, gồm 5 gian, các gian dài trung bình từ 2,4 -2,5m. Nền ở gian giữa và hai gian bênlàm cao hơn sân 0,4m, hai bên hồi làm cao hơn gian giữa 0,2m. Thềm hiên với ba bậc tam cấp, nền lát bằng gạch Bát, mạch chữ Công. Phía trước có hai trụ biểu, đỉnh trụ biểu đắp hình lân, phía dưới đắp hình đao cong vứt, mềm mại.
Kết cấu bộ khung gỗ gồm 5 hàng chân cột (3 hàng cột phía trước và 2 hàng cột phía sau), nhưng hàng cột cái phía trước làm kiểu trốn hàng cột, tạo thành quá giang, mục đích là để mở rộng không gian sinh hoạt của công trình. Ở hai bên hồi, các cột được làm kiểu trốn hàng cột, gác lên tường bao. Các cột được kê trên chân tảng đá, hình dáng cột kiểu thượng thu hạ thách, dáng đòng đòng. Toàn bộ Tiền tế gồm 6 vì nóc và 12 vì nách. Các vì nóc gian giữa và gian bên làm kiểu chồng rường, với ba con rường chồng lên nhau qua các đấu kê. Câu đầu liên kết với cột bằng mộng sập. Các vì nóc ở hai bên hồi làm kiểu cốn mê, với một tấm ván dày, gác lên câu đầu, cạnh trên khoét ổ đỡ hoành mái. Trên bức cốn chạm khắc hình hổ phù, ván nong ghép giữa câu đầu và quá giang vẽ hình rồng, với các đường nét sắc nhọn.
Các vì nách phía trước và phía sau ở gian giữa, gian bên làm kiểu kẻ ngồi, một đầu kẻ ăn mộng vào thân cột cái/cột trốn, còn một đầu tì lực lên xà nách và quá giang. Vì nách ở hai bên hồi làm kiểu cốn mê, với một bức cốn hình tam giác, liên kết với xà nách, cột cái, phía trên khoét ổ đỡ hoành mái.
Các vì hiên ở gian giữa và gian bên làm kiểu chồng rường, với bốn con rường chồng lên nhau qua các đấu kê. Các rường phía trên là kiểu rường suốt, liên kết với cột bằng mộng xuyên lửng, còn con rường phía dưới sử dụng rường cụt. Đầu các con rường chạm khắc hình lá lật. Vì hiên ở hai bên hồi làm kiểu cốn mê, chạm khắc các hình mai hóa rồng, trúc hóa rồng mang phong cách nghệ thuật nửa cuối thế kỷ 20. Các điêu khắc - trang trí ở Tiền tế khá phong phú và đa dạng, ngoài các hình linh vật như rồng, hổ phù, còn chạm các hình hoa lá cách điệu, lá lật, với kỹ thuật chạm nét, chạm nổi làm giảm bớt sự thô cứng của cấu kiện.
Liên kết theo chiều dọc của công trình sử dụng các xà dọc cột cái, xà dọc cột quân. Các xà đều có tiết diện hình lồng đèn, bào soi gờ chỉ, liên kết với cột bằng các mộng xuyên lửng.
Bao che phía trước được làm ở cột quân, sử dụng các hệ cửa ván gỗ, bên trên là các chắn song con tiện. Hai bên hồi sử dụng các tường bao bằng gạch, trát vữa. Phía sau mở cửa thông với Trung tế và Hậu cung. Mái được làm kiểu 1 tầng 2 mái kiểu tường hồi bít đốc tay ngai. Mái lợp ngói di. Chính giữa bờ nóc đắp hình rồng chầu mặt trời. Hai đầu bờ nóc đắp kìm nóc kiểu đầu rồng và đấu nắm cơm. Các bờ giải đắp gờ chỉ bằng xi măng vữa, giật cấp thành các tay ngai để chắn mái.
Trung tế và Hậu cung: Trung tế và Hậu cung có mặt bằng hình chữ Đinh. Đây là không gian chuyển tiếp giữa Tiền tế và Hậu cung, công trình này là nơi đặt nhiều đồ thờ tự thờ cúng vị thần được thờ tại đây.
Trung tế: Trung tế gồm 3 gian, dài 8,69m, rộng 5,69m. Nền được làm cao hơn nền sân trước 0,47m, lát bằng gạch Bát, mạch chữ Công. Kết cấu bộ khung ởgồm 4 hàng chân cột (2 hàng cột cái và 2 hàng cột quân), hàng cột quân ở hai bên hồi đã bị cắt bớt để xây tường bao. Toàn bộ Trung tế gồm 4 vì nóc và 8 vì nách. Các vì nóc gian giữa làm kiểu chồng rường, kiểu thức liên kết được làm tương tự như vì nóc ở Tiền tế. Hai vì nóc gian bên làm kiểu ván mê, với một tấm ván đặc kín chạm khắc hình rồng ngậm chữ Thọ, thân rồng được chạm với lớp vẩy đơn, khuôn mặt khá dữ tợn. Khoảng cách giữa câu đầu và xà lòng được nong ván, vẽ hình cuốn thư, lọ hoa ở hai bên, đây là sản phẩm mới trong lần trùng tu gần đây.
Các vì nách ở gian giữa làm kiểu kẻ ngồi, với một đầu ăn mộng qua thân cột cái, đỡ dạ câu đầu, còn đầu kia ăn mộng vào thân xà nách bằng các chốt. Xà nách sử dụng mộng xuyên lửng liên kết với thân cột cái và liên kết với cột quân bằng mộng sập. Các kẻ và xà nách đều có tiết diện hình lồng đèn, trên thân xà nách chạm khắc hình lá lật. Bốn vì nách ở gian bên làm kiểu cốn mê, trên các bức cốn chạm khắc hình tứ linh (long, lân, quy, phụng), nét chạm khá thô cứng mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ 20.
Các bẩy hiên trước được tạo kiểu cổ ngỗng, phía trên là ván dong khoét ổ đỡ hoành mái. Đầu các bẩy hiên chạm khắc hình lá lật, rồng hí thủy, đầu rồng được chạm bong kênh hẳn ra bên ngoài.
Bao che phía trước trước đây làm kiểu ván gỗ, nhưng sau đó đã cắt hàng cột quân phía trước để xây tường hồi, mở ba cửa gồm cửa giữa và hai bên. Hai bên hồi xây tường bao bằng gạch, trát vữa.Mái làm 1 tầng 2 mái, kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, được làm đơn giản hơn so với mái ở Tiền tế.
Hậu cung nằm ở vị trí sau cùng, nối liền với Trung tế tạo thành mặt bằng hình chữ Đinh. Hậu cung có diện tích nhỏ, dài 4,06m, rộng 3,76m. Kiến trúc được làm đơn giản, sử dụng các vật liệu bê tông cốt thép, xây kiểu cuốn vòm. Nền Hậu cung lát bằng gạch Bát, chia thành hai cấp, cấp thứ nhất cao 0,26m, cấp thứ 2 cao 0,37m so với mặt nền Trung tế.
Sân vườn: Sau khi được quy hoạch lại, các công trình kiến trúc trong đình được bố trí hài hòa. Phía trước đền là hồ nước, xung quanh đền trồng nhiều cây xanh tạo cảnh quan thoáng mát.
Về sự bài trí nội thất
- Bài trí nội thất ở Tiền tế được bài trí khá quy củ, chính giữa đặt hương án, bên trên đặt bát hương, bộ đỉnh đổng. Phía trên treo bức cuốn thư "Kỳ đức như sơn", phía dưới là bảng trà ca ngợi công đức của Thành hoàng. Hai bên hương án đặt bộ chấp kích. Cột cái gian giữa treo đôi câu đối:
"Thánh đức uy danh dực bảo hùng triều quang nhật nguyệt
Thần linh hiển ứng khuông phù quốc tổ chấn sơn hà".
Gian bên phải Tiền tế đặt kiệu bành mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 20, dùng để rước ngai thờ, bài vị trong ngày lễ hội.
- Bài trí nội thất ở Trung tế: Gian giữa Trung tế đặt hương án gỗ, chạm khắc các hình tứ linh, tứ quý, bát quả mang phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ 20. Phía trên đặt bát hương, mâm bồng bằng đồng, đèn thờ, lọ hoa. Dọc hai bên đặt hạc thờ, bình hoa, phía trên treo bức hoành phi "Tối linh từ" và đôi câu đối. Ở gian giữa phía trước Trung tế đặt bộ chấp kích. Hai gian bên không bài trí bàn thờ, chỉ treo bức hoành phi ở bên trên (là sản phẩm mới được đưa vào Trung tế trong giai đoạn gần đây).
- Bài trí nội thất ở Hậu cung: Trong Hậu cung đặt hương án, khám thờ, bên trong khám đặt ngai thờ, bài vị, đôi hài,… Trên bài vị khắc hình rồng chầu, hoa lá, hoa sen, mây, ở giữa thân bài vị khắc tên vị Thành hoàng được thờ "Đương cảnh Thành hoàng Chiêu Pháp Uy Thông đại vương". Phía trước khám thờ là hương án, trên đó bài trí nhiều đồ thờ tự. Các di vật trong Hậu cung đều được sơn son thếp vàng, các chi tiết trang trí chủ yếu là các hình tứ linh mang phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ 20.
Sơ đồ bài trí di vật ở đền Đức Thánh Hạ:
Chú thích:
TT | Tên di vật, hiện vật | TT | Tên di vật, hiện vật |
|---|
Di vật, hiện vật tại Hậu cung |
1 | Ngai thờ | 10 | Hương án |
2 | Bài vị | 11 | Mâm bồng |
3 | Mũ | 12,13 | Đôi lọ hoa |
4 | Áo | 14 | Bát hương |
5,6 | Đôi hia | 15 | Chóe |
7 | Khám thờ | 16 | Cuốn thư |
8,9 | Đôi lọng | | |
Di vật, hiện vật tại Trung tế |
17,18 | Đôi lọng | 33- 41 | Bộ chấp kích |
19 | Hương án | 42 | Hoành phi |
20 | Đỉnh | 43 | Hoàng bào |
21-22 | Hạc | 44 | Long bào |
23-24 | Đôi chân nến | 45-46 | Đôi Hạc thờ |
25 | Mâm bồng | 47 | Hoành phi |
26 | Bát hương | 48 | Mũ |
27,28 | Câu đối | 49-50 | Hia |
29-30 | Đôi lọ lục bình | 51 | Biển |
31-32 | Đôi câu đối | | |
Di vật, hiện vật tại Tiền tế |
52 | Hương án trong | 63 | Y môn |
53 | Đỉnh | 64-65 | Lọ hoa |
54,55 | Hạc | 66,67 | Câu đối ở cột cái gian giữa |
56,57 | Đôi chân nến | 68-77 | Bộ chấp kích |
58 | Mâm bồng | 78 | Kiệu |
59 | Bát hương | 79 | Chuông |
60 | Hương án ngoài | 80 | Hoành phi gian bên trái |
61 | Long ngai | 81 | Hoành phi gian bên phải |
62 | Cuốn thư | 82-83 | Câu đối ở cột quân gian bên |
DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ - LỄ HỘI THÔN THÁI BÌNH
Bên cạnh đó, tại đình, đền thôn Thái Bình còn lưu giữ các hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng với các lễ hội dân gian mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc.
Lễ hội chính của làng Thái Bình vẫn giữ theo lệ cũ từ xa xưa, diễn ra bắt đầu từ ngày mồng 2 đến mồng 6 tháng Giêng âm lịch. Theo qui định, lễ hội được tổ chức 2 năm một lần vào các năm chẵn. Bởi làng thờ chính là Bột Hải đại vương - Đức Thánh Cả có công lớn với dân làng, nên nghi thức cúng tế diễn ra với quy mô lớn, diễn ra trong nhiều ngày, quy tụ nhiều khách thập phương tham gia.
Lễ hội và hoạt động văn hóa dân gian diễn ra nơi đây, mang trong mình tinh thần dân tộc và đậm chất truyền thống. Cùng với đó là các hoạt động đánh đu, kéo co, vật, múa gậy, rước kiệu, và hát chèo. Đây là cách để duy trì và phát huy những giá trị văn hóa dân gian đã được hình thành từ hàng ngàn năm lịch sử xây dựng và bảo vệ quê hương. Đồng thời, nhân dân thôn Thái Bình, xã Hòa Xá cũng tận dụng những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới để xây dựng và phát triển quê hương ngày càng mạnh mẽ.
Lễ hội thôn Thái Bình là dịp để người dân địa phương và du khách thập phương bày tỏ lòng biết ơn tổ tiên. Các nghi thức rước kiệu, tế lễ và trò chơi dân gian tại đây phản ánh đậm nét bản sắc văn hóa vùng đất Thái Bình.
1. Phần tế lễ:
- Các công việc chuẩn bị và nghi lễ cúng tế: Theo người dân địa phương cho biết, việc chuẩn bị lễ hội tiến hành từ trước Tết Nguyên đán, do trưởng thôn chủ trì, phân công nhiệm vụ cho các thành viên. Dân làng đã cùng nhau ra đình, đền để dọn dẹp, lau rửa đồ thờ, quét đường làng ngõ xóm. Trước khi mở hội, đội tế nam khoảng 20 người trong độ tuổi từ 60 tuổi trở lên tiến hành làm lễ mộc dục.
- Lễ mộc dục: Lễ mộc dục được tổ chức 1 năm 4 lần, trong đó trước khi tiến hành lễ hội thì trước tết vào ngày 25 tháng Chạp làm lễ sấp ấn, thay quần áo, mũ mã để mời Đức Thánh Cả đón tết cùng người dân.
- Lễ vật dâng cúng: Vào các ngày lễ hội, lễ vật dâng cúng Đức Thánh Cả - Bột Hải đại vương không thể thiếu là bánh giầy. Ngoài ra còn có xôi, gà để thành mâm, hương hoa, oản quả, tiền vàng. Sau khi ban tế đã tế xong thì dân làng mới được vào dâng lễ riêng cầu lộc cầu tài cho bản thân và gia đình.
- Văn tế: Trong các cuộc tế lễ từ ngày 30 đến mồng 01 tháng Giêng, bao gồm đội tế nam là đội tế chính, có bài tế, nhạc, múa sinh tiền và văn tế. Đội nữ cũng có văn tế riêng, dâng hoa, dâng rượu lên Đức Thánh Cả. Văn tế được đặt ở gian chính giữa trước bàn thờ, có người chuyển chúc văn. Khi đọc xong do người đọc hóa tại chỗ.
- Ban tế, lễ tế: thường có khoảng ban tế nam (gồm 30 người) và ban tế nữ (khoảng 40 người). Chủ tế mặc trang phục áo, mũ, hia màu đỏ, các thành viên trang phục màu xanh. Lựa chọn người vào ban tế là những người am hiểu lễ nghi, đạo đức tốt, không vướng tang gia, gia đình hoàn chỉnh.
Sau khi rước kiệu, bài vị các bộ tướng (ở 6 đền trong thôn) về đền Đức Thánh Cả để tiến hành tế lễ trong khoảng một tiếng. Sau đó tiến hành rước kiệu, bài vị về đình để tiến hành tế lễ vào các buổi sáng từ ngày 2-6 tháng Giêng, buổi chiều các ngày diễn ra phần hội. Trong khi tế có ban nhạc tế, có thủ từ và người đón lễ. Sau khi tế xong thì dân làng cùng nhau thụ lộc cỗ mặn tại sân đình, cùng đóng góp theo nhân khẩu.
Các đội tế bao gồm 16 đội tế nam, tế nữ, đội dâng lễ như: Đội rồng; đội cờ; đội trống hội, đội tế nam, đội tế nữ, đội múa sinh tiền, đội nhạc công, đội nhân lực (phụ trách các công việc lo bàn ghế, phông bạt, loa đài, khi đội kiệu đi đến đâu là phải giải chiếu, kê gối), đội giã bánh, đội tu lễ - tiến lễ; đội khánh tiết; đội tiếp tân lo hậu cần; đội trật tự an toàn giao thông; đội múa gậy; đội trống rồng đi theo đội múa rồng; đội Phật tử - đội các già.
- Nghi thức rước thánh:
Sáng ngày mồng 2 tháng Giêng, tiến hành rước linh vị, nhang án, kiệu thờ của các đền trong thôn (đền Đức Thánh Trung, đền Đức Thánh Hạ, đền Đức Thánh Thượng, đền Thánh Tiếu, đền Thánh Phụ, đền Thánh Mẫu) đều tập trung ở đền Đức Thánh Cả để tiến hành làm lễ. Sau đó, mới rước các kiệu từ đền Đức Thánh Cả về đình Thái Bình.
Đình Thái Bình là nơi đón ngai thờ, bài vị, kiệu thờ Đức Thánh Cả và các bộ tướng về đình ngự. Khi rước linh vị Đức Thánh Cả từ đền về đình từ ngày mồng 2 - 6 tháng Giêng thì các ngai thờ, bài vị thờ vọng ở đình phải để sang một bên. Sau ngày mồng 6 mới đặt lại vị trí cũ.
Khi tiến hành rước Đức Thánh Cả được tổ chức quy mô lớn, trải dài hơn 1km, thu hút đông đảo khách thập phương tham gia. Đoàn rước bao gồm 9 đội kiệu khoảng 20 - 30 người, trong đó có: kiệu thứ nhất là đội kiệu bác Hồ; kiệu thứ hai là đội kiệu bát cống (kiệu chính của ngài Đức Thánh Cả); kiệu thứ ba là đội kiệu của cụ Quý Minh thượng đẳng (tham mưu đắc lực cho ngài Bột Hải); kiệu thứ 4 là kiệu cụ Tiếu (cụ Đức Thánh Tiếu, phụ trách về sản xuất nông nghiệp, cứu hỏa, cứu nạn đê điều); kiệu thứ 5 là kiệu của Đức Thánh Phụ và Thánh Mẫu; kiệu thứ 6 là kiệu rước nhang án 1 - rước bát hương của Đức Thánh Cả; kiệu thứ 7 là kiệu của Đức Thánh Trung (Minh Pháp tôn thần, người chuyên về pháp luật hiến pháp, tư pháp); kiệu thứ 8 là của Đức thánh Hạ (Chiêu Pháp uy thông, chủ yếu giữ về quân lực); kiệu thứ 9 là đội bát bửu rước các vũ khí của ngài.
Đến chiều ngày 6 tháng Giêng, các đội tế nam, tế nữ tiến hành tế lễ và tổ chức rước các Thánh hoàn cung về các đền.
2. Phần hội:
Song song với các cuộc tế lễ tại đình, thì buổi chiều các ngày từ 2 - 6 tháng Giêng, ngoài sân đình người dân tổ chức với các trò chơi dân gian diễn ra sôi nổi như: các hoạt động múa gậy, thi vật, đánh đu, kéo co, đánh cờ người, cờ tướng… với không khí chan hòa, cởi mở, phản ánh tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Một số hoạt động tổ chức văn nghệ tổ chức tại sân đình thu hút được đông đảo người dân tham gia.
Các ngày lễ khác và những hoạt động văn hóa trong di tích
Trong Hương ước của làng năm 1923 có ghi chép nhiều cuộc tế lễ được diễn ra theo từng tháng trong một năm. Ngoài lễ hội chính của làng, trong một năm tại các di tích của làng Thái Bình cũng tổ chức nhiều sinh hoạt văn hóa khác. Đến nay một số ngày lễ đã được lược bớt, chỉ còn giữ lại các ngày sau:
- Ngày 15 tháng Giêng là tết Thượng nguyên là kỳ lễ tổng kết xuân hội, chỉ tế lễ yên vị tại đình và các đền. Tương truyền, có những năm Đức Thánh Cả không về ngự tại đình, phải đến rằm tháng Giêng Ngài mới về, nên mới tiến hành tế lễ yên vị vào ngày này.
- Ngày 12 tháng 4 âm lịch là ngày sinh nhật của Đức Thánh Cả, dân làng chỉ tổ chức tại đền Đức Thánh Cả, không làm lễ ở đền khác. Trong ngày này, tại đền đã tiến hành làm lễ mộc dục, lễ vật có rượu, bột tẩy uế.
- Ngày 12 tháng 11 âm lịch là ngày mất của Đức Thánh Cả, được gọi là ngày "cơ thần bái xá" (ngày của nhà Thánh). Dân làng tiến hành làm lễ mộc dục, thay áo ở 6 đền trong thôn, tổ chức làm bánh giầy tại đền Đức Thánh Cả. Ở đình Thái Bình và các đền trong làng chỉ dâng lễ tế Thánh.
Ngoài ra, trong năm còn tiến hành các lễ tiết khác như: ngày Sóc, ngày Vọng hàng tháng, tết Hàn Thực, tết Nguyên tiêu, tết Đoan Ngọ…Ban khánh tiết của làng đều cho mở cửa đình để nhân dân địa phương đến thắp hương Thành hoàng.
Làng Thái Bình, xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội đã hình thành từ thời Hùng Vương xây dựng nước và ngay từ thời điểm đó đã trở thành một địa điểm dân cư phát triển về kinh tế - xã hội. Trong thời kỳ Bắc thuộc, làng Thái Bình có tên là Đại Đường Châu, sau đó, vào thời vua Lê Đại Hành (980 - 1005), nó được đổi thành Thái Đường, và từ năm 1885, lại thay đổi thành Thái Bình.
Cùng với quá trình lịch sử kéo dài hàng ngàn năm trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, người dân xã Vạn Thái đã tạo ra những truyền thống quý báu. Truyền thống tương thân, tương ái và tinh thần lao động cần cù cùng tình yêu nước sâu sắc là những giá trị quan trọng trong cộng đồng nơi đây.
Tinh thần yêu nước là một nét đặc trưng quan trọng trong truyền thống của người dân thôn Thái Bình nói riêng và xã Hòa Xá nói chung.
Cụm di tích Đền Đức Thánh Cả, Đình, Đền, Chùa thôn Thái Bình không chỉ là nơi thờ tự mà còn là "trái tim" sinh hoạt văn hóa, nơi gắn kết tình làng nghĩa xóm và gìn giữ những phong tục tập quán tốt đẹp của người dân thôn Thái Bình xã Hòa Xá, là biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần thượng võ và là kho tàng nghệ thuật kiến trúc dân gian cần được gìn giữ, phát huy..
Mời quý vị và các bạn hãy cùng đến thăm Cụm di tích Đền Đức Thánh Cả, Đình, Đền, Chùa thôn Thái Bình - Chiêm bái vùng đất "Địa linh nhân kiệt" thôn Thái Bình, xã Hòa Xá - nơi dòng chảy lịch sử hội tụ cùng hồn quê Việt để tìm hiểu về cuộc đời oai hùng của vị tướng Đức Thánh Cả Bột Hải Quan và cảm nhận dòng chảy lịch sử thời vua Hùng Huy Vương đánh giặc Ân để được Chiêm ngưỡng những nét chạm khắc gỗ tinh xảo, nơi thời gian như ngưng đọng trên từng mái ngói, cột đình, để tìm thấy sự bình an trong tâm hồn khi thắp nén nhang thơm giữa không gian văn hóa linh thiêng ngàn năm tuổi.. Về với thôn Thái Bình xã Hòa Xá, để hiểu thêm, yêu thêm những giá trị văn hóa bất tận của Thủ đô ngàn năm văn hiến!
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ DI TÍCH