Bước ngoặt đến với ông Tiến vào năm 2001, khi địa phương thực hiện chủ trương chuyển đổi đất trũng. Không lựa chọn cách làm nhỏ lẻ, ông mạnh dạn đầu tư chuồng trại, chuyển sang nuôi vịt đẻ kết hợp ấp nở con giống. Từ những bước đi ban đầu còn nhiều bỡ ngỡ, ông từng bước tích lũy kinh nghiệm, hoàn thiện quy trình kỹ thuật, đưa sản xuất vào nền nếp.
Ông Nguyễn Văn Tiến bên máy ấp con giống của gia đình
Nhận thấy nhu cầu thị trường đối với con giống chất lượng cao, ông đầu tư hệ thống máy ấp trứng công suất lớn. Đến nay, trang trại vận hành 4 máy ấp, mỗi ngày cung ứng khoảng 4.000 con giống. Nhờ kiểm soát chặt chẽ từ khâu chọn trứng, ấp nở đến chăm sóc, tỷ lệ nở cao, con giống khỏe mạnh, tạo dựng uy tín ổn định trên thị trường.
Không dừng lại ở đó, ông Tiến tiếp tục mở rộng quy mô theo hướng sản xuất hàng hóa. Chủ động được con giống, ông phát triển đa dạng đàn vịt với các giống vịt bầu, vịt siêu đẻ và tổ chức nuôi vịt thương phẩm theo lứa. Mỗi chu kỳ nuôi khoảng 53 ngày, sản lượng đạt từ 2 đến 2,5 tấn, giúp quay vòng vốn nhanh, giảm thiểu rủi ro biến động giá cả.
Công việc thường ngày của ông Tiến
Song song với chăn nuôi vịt, ông xây dựng đàn gà Ai Cập quy mô khoảng 7.000 con. Trung bình mỗi ngày, đàn gà cho khoảng 5.000 quả trứng, tiêu thụ ổn định, mang lại nguồn thu đều đặn hàng chục triệu đồng mỗi tháng. Việc đa dạng hóa vật nuôi không chỉ tăng hiệu quả kinh tế mà còn giúp phân tán rủi ro trong sản xuất.
Điểm nổi bật của mô hình là cách tổ chức sản xuất theo hướng khép kín, tận dụng tối đa nguồn lực. Trên diện tích hơn 5.000 m², khu chăn nuôi gia cầm được quy hoạch đồng bộ với hệ thống ao nuôi thủy sản. Các loại cá trôi, chép, mè được thả nuôi, tận dụng phụ phẩm từ chăn nuôi làm thức ăn, vừa giảm chi phí, vừa nâng cao giá trị sản xuất trên cùng diện tích. Mỗi năm, sản lượng cá đạt khoảng 5 tấn, đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập.
Hiệu quả của mô hình không chỉ đến từ quy mô mà còn ở cách làm bài bản, khoa học. Ông Tiến đặc biệt chú trọng phòng, chống dịch bệnh: vệ sinh chuồng trại định kỳ, phun khử trùng, tiêm phòng đầy đủ cho đàn vật nuôi. Đồng thời, ông chủ động liên kết với các đơn vị cung cấp thức ăn chăn nuôi, kết hợp linh hoạt giữa thức ăn công nghiệp và nguồn thức ăn sẵn có như lúa, cám gạo, qua đó giảm chi phí, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Theo tính toán, tổng thu nhập từ chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản của gia đình ông đạt từ 350 đến 500 triệu đồng mỗi năm. Quan trọng hơn, mô hình đã chứng minh hiệu quả của hướng phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị, gắn sản xuất với thị trường, tận dụng tốt tài nguyên và giảm thiểu lãng phí.
Không giữ riêng kinh nghiệm cho mình, ông Tiến còn tích cực hỗ trợ con giống, chia sẻ kỹ thuật cho nhiều hộ dân trong vùng. Từ đó, mô hình không chỉ dừng lại ở hiệu quả kinh tế gia đình mà còn góp phần lan tỏa cách làm hay, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại địa phương.
Trong thời gian tới, ông định hướng tiếp tục mở rộng trang trại theo hướng hiện đại, áp dụng quy trình an toàn sinh học, nâng cấp hệ thống chuồng trại và máy ấp, đồng thời tăng cường liên kết tiêu thụ sản phẩm. Đây là bước đi cần thiết để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Từ một vùng đất trũng kém hiệu quả, hành trình của ông Nguyễn Văn Tiến cho thấy: khi người nông dân dám nghĩ, dám làm, biết áp dụng khoa học kỹ thuật và tổ chức sản xuất hợp lý, nông nghiệp hoàn toàn có thể trở thành lĩnh vực mang lại giá trị kinh tế cao và ổn định lâu dài. Mô hình của ông là minh chứng sinh động cho hướng đi đúng đắn của nông nghiệp hiện đại – sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững./.